Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
0969889270
khoanguvan@hpu2.edu.vn

MỘT SỐ KHÍA CẠNH TƯ TƯỞNG NHO GIÁO THỂ HIỆN TRONG TRUYỆN THƠ NÔM NHỊ ĐỘ MAI

ThS. Nguyễn Thị Hải Vân


1. Mở đầu
Trong nền văn học cổ Việt Nam, truyện thơ Nôm là một hiện tượng độc đáo và đặc sắc. Nguồn gốc có thể trong dân gian hoặc bắt nguồn từ tiểu thuyết Trung Quốc, nhiều tích đã được diễn lại bằng thơ Nôm như Hoa Tiên, Ngọc Kiều Lê, Phan Trần,... Nhị độ mai là một trong những tác phẩm truyện thơ Nôm quen thuộc và được đông đảo quần chúng yêu mến, không chỉ bởi văn từ tao nhã, lời lẽ êm ái, mà còn bởi Nhị độ mai là một tác phẩm tiêu biểu và đặc trưng cho tư tưởng Nho giáo. Đến mức có người đã từng cho rằng “nếu kể một truyện đủ cả trung hiếu tiết nghĩa thì không truyện nào đủ được thế bao giờ”.(1)

2. Nội dung tư tưởng Nho giáo chủ yếu thể hiện trong truyện thơ Nôm Nhị độ mai
2.1. Nêu cao tấm gương trung hiếu tiết nghĩa
Như chúng ta đã biết, Nhị độ mai xuất hiện vào nửa đầu thế kỷ XIX. Ở thời điểm này, nhìn chung chế độ phong kiến đã lập lại được kỷ cương nề nếp và đang khôi phục lại đạo lý Nho gia để ổn định và xây dựng chế độ. Song, trước kia, trong bất kỳ giai đoạn nào của lịch sử dân tộc, dù thịnh dù suy, dù trị dù loạn, bao giờ cũng có những vấn đề đạo đức cần nêu lên để làm gương cho người đời noi theo hay để răn người ta biết sai mà tránh. Vì thời nào cũng có nịnh thần, có quan tham ô lại trục lợi phá hoại nền móng xã tắc. Cho nên những bài học luân lý cũ cần được đem ra giảng lại. Những bài học Nhị độ mai nêu ra vừa là luân lý xã hội nhằm đem lại nền thịnh vượng cho toàn dân, vừa đồng thời là đạo đức cá nhân. Nhị độ mai là tác phẩm “tải đạo”. Nhan đề cũng như tình tiết và nhân vật của tác phẩm đều xoay quanh bốn mối lớn của luân lý Nho gia: trung, hiếu, tiết, nghĩa.
Trung là hết lòng mình khi mưu sự giúp vua. Nói rộng ra là hết lòng vì dân vì nước. Mai Bá Cao đã nêu một tấm gương trung cảm động sáng vằng vặc theo nghĩa đó. Vì trung mà Mai Bá Cao căm ghét bè đảng gian nịnh Lư Kỷ, Hoàng Tung bất trung và quyết tâm diệt trừ chúng. Tác giả đã làm nổi bật những đặc tính kiểu mẫu cùng hào khí lồng lộng ngút trời của kẻ sĩ phương Đông. Với nhân vật này, lòng trung trực đã biến thành một lẽ sống say sưa và tha thiết khi Mai công răn dạy con:
“Sao cho giữ được chữ trung,
Mới là hiếu tử nối dòng thư hương.”(2)
Khi đề thơ lên bức tranh Di, Tề:
“Sáng mai thức dậy trông quanh,
Treo trên thấy có bức tranh Di, Tề.
Như khêu tấm dạ trung nghì,
Dạy đem nghiên bút tay đề bốn câu.
Than rằng: Thanh ứng khí cầu.
Người kim cổ, dạ trước sau một dường.”(3)
Khi tức giận bè lũ gian đảng:
“Mai công nổi giận đùng đùng,
Rằng: Phen này quyết chẳng dung loài hồ.
Vào đây ta sẽ hay cho,
Đừng Tung, đừng Kỷ, hết Lư, hết Hoàng!”(4)
Không chỉ thể hiện ở nhân vật Mai Bá Cao, những nhân vật khác như Trần Đông Sơ, Phùng Lạc Thiên, kể cả người gia bộc Hỷ Đồng cũng đều là người trung, song ở mức độ khác hơn, không quyết liệt và can trường như Mai Bá Cao. Đi xa hơn nữa, Nhị độ mai còn thể hiện quan niệm trung quân triệt để:
“Đã là nam tử tu mi,
Vào vòng công nghiệp, ấy thì có vua.
Mới hay từ tóc đến tơ,
Miếng cơm, tấm áo cũng nhờ quân ân.
Sao cho được chữ trung thần,
Thờ vua chớ có vì thân mới đành.
Thế rồi trời cũng có mình,
Lo gì phúc hậu, công danh kém người.”(5)
Chính vì quan niệm này mà Nhị độ mai Việt Nam đã không chấp nhận việc Mai Bá Cao thống trách vua trước khi bị hành hình (hồi VII trong tiểu thuyết), đồng thời cũng bỏ đi việc để bia Lý Lăng, một bầy tôi vì tham sống sợ chết mà bỏ tiết hàng giặc, đứng bên cạnh đến thờ trung thần Tô Vũ (hồi XIX trong tiểu thuyết).
Trung thì thường đi đôi với nghĩa. Nghĩa là nhiệm vụ và bổn phận phải làm của mỗi người đối với xã hội. Cho nên vì nghĩa mà làm thì không cần tính toán đến kết quả, đến thành bại, nhất là tính đến lợi ích cá nhân, vì lợi và nghĩa là hai khái niệm, hai phạm trù đối kháng trong quan niệm đạo đức. Vì nghĩa mà làm thì không bao giờ thất bại. Có thể là chết, dẫn đến một kết cục bi thảm, nhưng người vì nghĩa vẫn làm, làm với tinh thần tự nguyện như câu nói của Mai Bá Cao:
“Việc này giao một mình tôi,
Để mà xem Kỷ với Mai thế nào.”(6)
 “Già này dù thác cũng vinh,
Suối vàng khuất mặt cũng khinh khích cười.”(7)
Những lời nói và hành động thật cương nghị, quyết liệt và đầy xúc động vì một tinh thần dám lãnh nhận trách nhiệm, lãnh nhận hết gánh nặng về mình. Mai Bá Cao biết chống Lư Kỷ là một việc cực kỳ nguy hiểm mà ông vẫn tự nguyện ra tay, vì đấy là việc của kẻ sĩ phải đảm đương lấy:
“Rằng: bấy lâu những ở ngoài,
Dạ này tấm tức với người quyền gian.
Rày vâng Đài gián thăng quan,
Phen này ta quyết cả gan phen này.
Bấy giờ một dở một hay,
Hợp nhau nào biết có ngày nữa thôi.”(8)
Bài học về chữ nghĩa còn có thể thấy qua đoạn các sĩ tử mưu việc cứu Khâu Khôi, đón đường đánh bè lũ Lư Kỷ, Hoàng Tung. Đó là một nghĩa cử bất chấp cường quyền và bạo lực:
“Việc này nhẫn nhục sao yên,
Bè gian rồi nữa lộng quyền đến đâu.”(9)
 “Phỏng mà có đến lẽ gì,
Đầu đoàn chuyện ấy em thì xin đương.”(10)
 “Xin liều thân ấy cứu người khôi khoa.”(11)
Có lẽ trong Nhị độ mai, các nhân vật trẻ tuổi như Mai Sinh, Hạnh Nguyên, Trần Xuân Sinh đều là những nhân vật phải chịu đựng nhiều gian nan thử thách. Nhưng ở đây cũng như phần lớn các truyện Nôm khác, nhân vật được đặt vào vòng kiềm tỏa khắt khe của định mệnh không phải để đương đầu và phấn đấu như trong các tiểu thuyết phương Tây. Mà chính là để chấp nhận nó như một thử thách tấm lòng kiên trinh của mình. Khi rơi vào hoàn cảnh bế tắc và để bảo toàn tiết nghĩa, các nhân vật đều chọn cho mình cách quyên sinh.  Mai Sinh buồn rầu sau cái chết của Hỉ Đồng nên treo cổ tự vẫn nhưng đã được nhà sư cứu sống, Hạnh Nguyên trầm mình trên đường đi cống Hồ cũng nhờ thần linh cứu giúp, Trần Xuân Sinh lưu lạc khổ sở, nhảy xuống sông tự tử nhưng được nhà thuyền chài cứu thoát. Vậy nhờ đâu mà những nhân vật trẻ này thoát khỏi những thử thách nghiệt ngã của cuộc sống? Đó là nhờ tấm lòng tiết nghĩa đã biến thành những giá trị tinh thần giúp cho họ đứng vững trước thử thách cuộc đời:
“Sông dù cạn núi dù lay,
Thà liều xương trắng dám thay lòng vàng.
Đem thân đối với cương thường,
Tạ lòng người cũ treo gương dưới đời.”(12)
Nếu đi sâu vào chi tiết ta phải công nhận giá trị luân lý về hiếu nghĩa của Nhị độ mai Việt Nam hoàn hảo hơn so với bản tiểu thuyết vì đã sửa chữa được một số sơ hở về phương diện đạo đức trong tiểu thuyết, như đã bỏ việc Mai Sinh làm con nuôi Vương Chính trong bản tiểu thuyết, để nhân vật này khỏi mang tiếng bất nghĩa vì bỏ quên cha mẹ nuôi khi được vinh hiển; đã thêm vào việc tạ ân Chiêu Quân cùng vị sư đã cứu sống và cho Mai Sinh nương nhờ:
“Xin làm ngọc xuyến, kim hoa,
Mượn người thương khách đem đưa sang Hồ.
Hỏi thăm đến tới linh từ,
Chiêu Quân là hiệu, bấy giờ tiến lên.
Khấn rằng là của Hạnh Nguyên,
Cho sai đưa đến án tiền tạ ân.
Lại ra các bộ sứ thần,
Tạ từ có thiếp vân vân mấy lời.”(13)
Hay:
“Lại tìm đến chốn Phật đường,
Truyền đem áo tía, xe vàng nghênh sư.
Tái sinh may có ơn xưa,
Khấu đầu bách bái tạ thưa mấy lời.”(14)
Có thể thấy, Nhị độ mai là câu chuyện trung hiếu tiết nghĩa, nhưng nó không chỉ là tuyên truyền sự phục tùng tuyệt đối của kẻ làm tôi mà thực chất nó là tiếng nói của chính nghĩa. Bởi nội dung của Nhị độ mai là cuộc đấu tranh giữa chính nghĩa và vô đạo, giữa ngay và gian, giữa xấu và tốt, một cuộc đấu tranh lâu dài, khốc liệt nhưng cuối cùng thắng lợi thuộc về phía chính nghĩa, phía những người ngay, người tốt. Điều đó đã giải thích cho ta thấy vì sao Nhị độ mai luôn được đông đảo quần chúng nhân dân yêu mến coi là tác phẩm truyền dạy đạo lý của Nho gia còn mãi đến đời sau.
2.2. Tư tưởng thiên mệnh và quy luật vạn vật tuần hoàn
Để giải thích và nhận định về các biến cố, các diễn biến trong câu chuyện, tiểu thuyết Trung hiếu tiết nghĩa Nhị độ mai Trung Hoa đã dựa trên quan niệm mọi việc đều do trời an bài và định đoạt:
大難臨㑗不自由,生死朋天何用謀 ? đại nạn lâm thân bất tự do, sinh tử bằng thiên hà dụng mưu (nạn lớn xảy đến không thể do mình, sao lại mưu tính làm gì?).(15)
Hay: 人從稍計誇靈利天自慵慵定主張 nhân tòng sảo kế khoa linh lợi, thiên tự thung dung định chủ trương (người ta cậy có mưu kế khéo, khoe là linh lợi. Nhưng Trời lại ung dung tự chủ trương rồi).(16)
Bên cạnh đó là ý niệm vận trời tuần hoàn:如今看破旬圜里笑依𣟬杆按㸃頭 như kim khán phá tuần hoàn lý, tiếu ỷ lan can án điểm đầu (như bây giờ đã thấy rõ về lẽ tuần hoàn, cười dựa lan can mà kín đáo gật đầu)(17) hay tư tưởng “tích thiện phùng thiện”, “ác giả ác báo”: 善惡到頭終有報只爭來早與來遲 thiện ác đáo đầu chung hữu báo, chỉ tranh lai tảo dữ lai trì (thiện hay ác đến cùng tất có báo ứng, chỉ có đến sớm hay muộn mà thôi)(18); 天公不負忠良後 富貴榮華姓似香 thiên công bất phụ trung lương hậu, phú quý vinh hoa tính tự hương (ông trời chẳng phụ con cháu của kẻ trung lương, cho hưởng phú quý vinh hoa, tên họ thơm như hương).(19)
Ba quan niệm này hiển nhiên là tư tưởng Nho gia, nhưng xen vào đó tác giả Trung Hoa còn chủ trương cả quan niệm tiền kiếp nhân quả của nhà Phật:
人𦄘本是前世悠,
人人何必苦夂求.
強達險處難回避,
事到頭來不自由.
Nhân duyên bản thị tiền thế du,
Nhân nhân hà tất khổ truy cầu,
Cưỡng đạt hiểm xứ nan hồi tị,
Sự đáo đầu lai bất tự do.(20)
(Việc nhân duyên phải là bởi kiếp trước,
Người ta chẳng nên khổ sở tìm kiếm.
Bằng như cố cưỡng thì nguy hiểm khó tránh,
Mọi chuyện xảy ra đâu có thể do mình).
Như vậy có thể nói tư tưởng của tác giả Trung Hoa rất gần gũi với tư tưởng hay đúng hơn với niềm tin giản dị, thực tế, có đôi chút hỗn tạp pha trộn của giới bình dân, chứ không hẳn là tư tưởng thuần túy Nho giáo.
 Nhị độ mai Việt Nam cũng chủ trương những quan niệm mang màu sắc Nho giáo như thuyết thiên mệnh. Khổng giáo cho rằng mỗi cá nhân con người đều có số mệnh định sẵn. Con người không thể cưỡng lại với số mệnh được. Mở đầu Nhị độ mai là hai câu thơ khẳng định tư tưởng thiên mệnh:
“Hóa nhi thăm thẳm nghìn trùng,
Nhắc cân phúc tội rút vòng vần xoay.”(21)
Hình tượng về “hóa nhi”, “hóa công”, “con tạo”, “trời già”, “cao xanh” đều là biểu tượng cho một đấng tối cao đã sắp đặt, bởi vậy người trung rồi sẽ được đền đáp, kẻ gian sẽ bị trừng trị:
“Ngàn xưa mấy kẻ gian ngay,
Xem cơ báo ứng biết tay trời già.
Tuần hoàn lẽ ấy chẳng xa,
Chớ đem nông nỗi mà ngờ cao xanh.”(22)
 “Bấy giờ mới rõ thực lò Hóa công.
Truyện này xem thấu thỉ chung,
Suy ra mới biết trời không có lầm.”(23)
Không những thế, trong Nhị độ mai còn cho thấy quan niệm về vận trời tuần hoàn. Vận mệnh của con người tuy là đã có tạo hóa an bài nhưng sẽ không phải không thay đổi trong cuộc đời. Nó sẽ theo quy luật tuần hoàn, hết mưa lại nắng, hết khổ lại vui:
“Tuần hoàn lẽ ấy chẳng xa,
Chớ đem nông nỗi mà ngờ cao xanh
Trời nào phụ kẻ trung trinh,
Dù vương nạn ấy, ắt dành phúc kia.
Danh thơm muôn kiếp còn ghi,
Để gương trong sách, tạc bia dưới đời.
Gian tà đắc chí mấy hơi,
Mắt thần khôn giấu, lưới trời khôn dung.
Uy quyền một chút như không,
Xem bằng lửa đá, ví cùng đám mây.”(24)
Hay:
“Cho hay trời cũng ngồi rồi,
Tuần hoàn đem lại vòng dài rút chơi.
Dữ, lành bỏ lửng mà coi,
Sắp đâu vào đấy chẳng sai phân hào!”(25)
Chính vì bởi vận trời tuần hoàn nên sẽ đưa đến hệ quả là cơ trời báo ứng, kẻ làm thiện gặp thiện, người làm ác gặp ác:
“Gian tà chớ vội bảnh bao,
Tung lên cho bổng, buộc vào tự nhiên.
Trước dù lỏng lẻo dường thiên,
Sau càng ráo riết, mới tin tay già.
Trung lương còn bỏ lửng lơ,
Xoay trăm nghìn cấp, thử ba bốn lần.
Hãy cho đeo đẳng đủ phần,
Rõ lòng sắt đá liệu dần gỡ cho.”(26)
Hay:
“Gian thần chưa chắc nẩy chồi,
Núi băng khi thấy mặt trời hẳn tan .
Trung trinh dẫu có mắc oan,
Vẫn trơ cây cứng, không chồn gió lay.
Về sau ngay lại ra ngay,
Khỏi tuần hoạn nạn, đến ngày hiển vinh.”(27)
Những triết lý này đã mang lại một niềm tin thần thánh rằng lẽ phải muôn đời mà ta chỉ cảm nhận được bằng trực giác nói trên kia sẽ thắng, nghĩa là người trung trực tuy bị hãm hại, kẻ nịnh thần tạm thời đắc thế. Song người lương thiện, điều tốt lành sẽ mãi được phù trì, và rồi đắng cay sẽ vơi dần, ngọt bùi sẽ đến, và rốt cuộc lẽ phải, người trung nhất định thắng lợi.
2.3. Quan niệm về chữ Tâm và “đức năng thắng số”
Trước các tình tiết, các sự kiện do chính mình tưởng tượng ra, tác giả Trung Hoa chỉ có thể giải thích bằng những quan niệm rời rạc, giản dị chứ chưa tìm ra được một quan niệm bao quát nào có thể giải thích tất cả. Nhưng với quan niệm “chữ tâm”, tác giả Việt Nam đã thực hiện được công việc khó khăn này một cách tuyệt diệu:
“Dữ lành trong một chữ tâm,
Cơ thâm thì họa cũng thâm là thường.”(28)
Đối với quan niệm siêu hình của Nho giáo, chữ 心 tâm này – một khía cạnh của chữ 誠 thành, đã phù hợp với quan niệm: thiên mệnh, vận trời tuần hoàn, lẽ trời báo ứng. Đồng thời giải thích và bao trùm luôn cả việc lòng thành thấu đến trời đất, quỷ thần khiến hoa mai nở hai lần:
“Ông rằng: Thực có như lời,
 Mai hai độ nở mới dời lòng ta
Tiểu thư ra trước vườn hoa,
Khẩn năm bảy lượt, lạy và bốn phen.
Lòng thành thấu cửu trùng thiên
Cành phàm đã chắp hoa tiên bao giờ.
May đâu đến bữa thứ ba,
Mai sinh thức dậy, bấy giờ còn khuya
Hương đâu phưng phức tứ bề,
Hoa đâu san sát đầy khê một vườn.”(29)
Và cả việc Hạnh Nguyên được cứu khi tự trầm:
“Tiểu thư từ xuống đầm sâu,
Hồng vân một đóa đón đâu nửa chừng,
Ào ào tiếng gió lay rừng,
Giữa trời vũ giá vân đằng đem đi.
Mấy lời thần mộng xa nghe:
Ta đây vâng mệnh đưa về Trung hoa!”(30)
Đối với cuộc sống, quan niệm này đã dành cho con người quyền tự do, bởi đó làm tăng thêm giá trị nhân bản của tác phẩm. Chữ tâm của Nhị độ mai Việt Nam đã cắt nghĩa các sự kiện trong truyện như những hành động tự do. Với quyền tự do đó, các nhân vật nhận trách nhiệm về những hành động của mình. Nếu làm ác họ sẽ phải chịu trừng phạt và ngược lại làm thiện họ sẽ được thưởng công xứng đáng:
“Thế rồi trời cũng có mình
Lo gì phúc hậu công danh kém người.”(31)
Ngoài ra, chữ tâm lại còn hết sức phù hợp với mục đích đạo lý của tác phẩm. Cũng như bốn nguyên tắc đạo lý trung, hiếu, tiết, nghĩa trong tư tưởng Nho gia, chữ tâm được đề ra như một phương cách để giải quyết và xây dựng một cuộc sống xã hội hiện tại, chứ không phải để hướng đến một phương thức giải thoát hay một thế giới siêu hình nào khác.
Cũng như Nguyễn Du trước đó đã nói “Có trời mà cũng có ta” hay “Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều”, truyện Nhị độ mai khẳng định, biểu dương và cổ vũ tất cả những cố gắng của con người cũng với những phẩm chất tốt đẹp trung hiếu tiết nghĩa, hướng về cái đẹp, lẽ công bằng của đạo lý dân tộc.

3. Tạm kết
Với bút pháp vừa giản dị bình dân vừa hùng hồn mạnh mẽ, tác giả đã rất thành công trong việc diễn tả và phổ biến những tấm gương đạo đức về trung hiếu tiết nghĩa. Qua truyện thơ Nôm Nhị độ mai, các nguyên tắc đạo lý của Nho giáo đã bớt hẳn tính chất khô khan, giáo điều để trở thành những lẽ sống thật say sưa với hào khí bừng bừng mãnh liệt. Với những điều tiến bộ và triệt để khi nhận thức về Nho giáo trong tác phẩm này, tác giả Nhị độ mai tỏ ra là một nhà Nho uyên thâm đã thấu đáo được đến phần tinh phần uyên áo tuyệt diệu nhất của tư tưởng Nho gia. Cũng chính nhờ tư tưởng này mà Nhị độ mai Việt Nam đã có một giá trị trí thức thật đặc biệt.
 
Chú thích:
(1) Lời tựa, 𠄠度枚新傳 Nhị độ mai tân truyện, Liễu Văn đường tàng bản, in năm Khải Định tứ niên 1920, thư viện Đại học Yale – Mĩ.
(2) Nhị độ mai, Tân Việt, Sài Gòn, 1952, câu 55-56, trang 19-20.
(3) Nhị độ mai, Tân Việt, Sài Gòn, 1952, câu 249-254, trang 19-20.
(4) Nhị độ mai, Tân Việt, Sài Gòn, 1952, câu241-244, trang 19-20.
(5) Nhị độ mai, Tân Việt, Sài Gòn, 1952, câu 2803-2810, trang 19-20.
(6) Nhị độ mai, Tân Việt, Sài Gòn, 1952, câu 329-330, trang 19-20.
(7) Nhị độ mai, Tân Việt, Sài Gòn, 1952, câu 333-334, trang 19-20.
(8) Nhị độ mai, Tân Việt, Sài Gòn, 1952, câu 69-74, trang 19-20.
(9) Nhị độ mai, Tân Việt, Sài Gòn, 1952, câu 2115-2116, trang 19-20.
(10) Nhị độ mai, Tân Việt, Sài Gòn, 1952, câu 2127-2128, trang 19-20.
(11) Nhị độ mai, Tân Việt, Sài Gòn, 1952, câu 2132, trang 19-20.
(12) Nhị độ mai, Tân Việt, Sài Gòn, 1952, câu 1034-1040, trang 19-20.
(13) Nhị độ mai, Tân Việt, Sài Gòn, 1952, câu 2759-2766, trang 170.
(14) Nhị độ mai, Tân Việt, Sài Gòn, 1952, câu 2633-2636, trang 164.
(15) 忠孝節義𠄠度枚Trung hiếu tiết nghĩa nhị độ mai, Cẩm Chương Đồ Thư cục, Quang Tự  thứ 18, 1892, hồi XXV, quyển 3, tờ 8b, dòng 12.
(16) 忠孝節義𠄠度枚Trung hiếu tiết nghĩa nhị độ mai, Cẩm Chương Đồ Thư cục, Quang Tự  thứ 18, 1892, hồi XXXII, quyển 4, tờ 4b, dòng 16.
(17) 忠孝節義𠄠度枚Trung hiếu tiết nghĩa nhị độ mai, Cẩm Chương Đồ Thư cục, Quang Tự  thứ 18, 1892, hồi XXVII, quyển 3, tờ 11a, dòng 15-16.
(18) 忠孝節義𠄠度枚Trung hiếu tiết nghĩa nhị độ mai, Cẩm Chương Đồ Thư cục, Quang Tự  thứ 18, 1892, hồi XXXVIII, quyển 4, tờ 11a, dòng 16.
(19) 忠孝節義𠄠度枚Trung hiếu tiết nghĩa nhị độ mai, Cẩm Chương Đồ Thư cục, Quang Tự  thứ 18, 1892, hồi XXXX, quyển 4, tờ 13b, dòng 11.
(20) 忠孝節義𠄠度枚Trung hiếu tiết nghĩa nhị độ mai, Cẩm Chương Đồ Thư cục, Quang Tự  thứ 18, 1892, hồi XXXVI, quyển 4, tờ 9a, dòng 7.
(21) Nhị độ mai, Tân Việt, Sài Gòn, 1952, câu 1-2, trang 19.
(22) Nhị độ mai, Tân Việt, Sài Gòn, 1952, câu 3-6, trang 19.
(23) Nhị độ mai, Tân Việt, Sài Gòn, 1952, câu 2790-2793, trang 172
(24) Nhị độ mai, Tân Việt, Sài Gòn, 1952, câu 5-14, trang 19 -20.
(25) Nhị độ mai, Tân Việt, Sài Gòn, 1952, câu 2777-2780, trang 170-171.
(26) Nhị độ mai, Tân Việt, Sài Gòn, 1952, câu 2781-2788, trang 171.
(27) Nhị độ mai, Tân Việt, Sài Gòn, 1952, câu 2393-2398, trang 152.
(28) Nhị độ mai, Tân Việt, Sài Gòn, 1952, câu 2793-2794, trang 172.
(29) Nhị độ mai, Tân Việt, Sài Gòn, 1952, câu 739-748, trang 63.
(30) Nhị độ mai, Tân Việt, Sài Gòn, 1952, câu 1245-1250, trang 96.
(31) Nhị độ mai, Tân Việt, Sài Gòn, 1952, câu 2809-2810, trang 172
Tài liệu tham khảo:
[1]. Trương Chính (1956), “Xung quanh cuốn Nhị độ mai”, tạp chí Văn Sử Địa số 20, Hà Nội.
[2]. Kim Định(1972), Cơ cấu Việt Nho, Nguồn sáng, Sài Gòn.
[3]. Kiều Thu Hoạch (1993), Truyện Nôm – nguồn gốc và bản chất thể loại. Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
[4] Trần Trọng Kim (2003), Nho giáo, Nxb Văn học, Hà Nội.
[5] Trần Nghĩa (1999), Lược đồ quan hệ tiểu thuyết Hán Nôm Việt Nam và tiểu thuyết cổ các nước trong khu vực, Tạp chí Hán Nôm, số 3/1999.
[6] Trần Ích Nguyên (2009), Nghiên cứu tiểu thuyết Hán văn Trung – Việt, Phạm Tú Châu – Phạm Ngọc Lan dịch, Phạm Tú Châu chỉnh lý, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
[7] Văn Tân (1955), Thử tìm hiểu ý nghĩa và giá trị Nhị độ mai, Tạp chí Nghiên cứu Văn Sử Địa, Hà Nội.
[8] Lê Trí Viễn, Hoàng Ngọc Phách (1972), Nhị độ mai. Nxb Văn học, Hà Nội.
[9] Truyện Nhị độ mai (1988), Nguyễn Thạch Giang giới thiệu, khảo đính, chú giải, Nxb Đại học & Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội.
[10] Nhị độ mai (1952), Tân Việt, Sài Gòn.
[11] Nhị độ mai diễn ca二 度 梅 演 歌. Quảng Thịnh đường in năm Khải Định Canh Thân (1920), VNB.28 (Viện Nghiên cứu Hán Nôm).
[12] Trung hiếu tiết nghĩa Nhị độ mai忠孝節義二度梅, Cẩm Chương đồ thư cục, Quang Tự thứ 18 (1892).
Bài đăng trên Tạp chí Nhân lực Khoa học xã hội, số 8 (51) 2017

0969889270 0912944324